Chủ Nhật, 1 Tháng Tám 2021

| Vạn Cổ Kỳ Thư |

3 điều khiến một người bất hủ: Lập đức, lập công, lập ngôn

Trong sách “Tả truyện. Tương Công năm 24” viết: Thời Xuân Thu, Thúc Tôn Báo của nước Lỗ và Phạm Tuyên Tử của nước Tấn từng thảo luận với nhau về vấn đề “tử nhi bất hủ” (chết rồi cũng không bao giờ mất). Phạm Tuyên Tử cho rằng tổ tiên của ông, từ thời Ngu, Hạ, Thương, Chu cho tới nay, nhiều đời đều là quý tộc, gia thế hiển hách, hương khói không dứt, đây chính là “bất hủ”. Thúc Tôn Báo lại không cho rằng như vậy, ông cho rằng đây chỉ có thể được gọi là phúc lộc nhiều đời không hết mà thôi. Thúc Tôn Báo cho rằng “bất hủ” chân chính chính là “Cao nhất là lập đức, tiếp theo là lập công, tiếp theo nữa là lập ngôn”.

Quan điểm “Tam bất hủ” đã trở thành một phần quan trọng trong văn hóa truyền thống của người xưa. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục người đời sau. Rất nhiều chí sĩ coi trọng việc tu thân dưỡng đức, yêu nước thương dân đều dùng “Tam bất hủ” để yêu cầu bản thân mình. “Bất hủ” của con người không phải nằm ở dài ngắn của sinh mệnh mà ở tinh thần cao thượng, không nằm ở phú quý cá nhân mà ở sự nghiệp xã hội lớn lao.

Lập đức

Nho gia lấy nhân nghĩa là nội dung trọng yếu của đạo đức, cho nên đạo đức nhân nghĩa thông thường đi đôi với nhau. Đối với cá nhân mà nói, từ Thiên Tử cho đến thứ dân, tất cả đều lấy tu thân làm gốc. Khổng Tử cho rằng, lập đức mới có thể lập thân. Đối với xã hội mà nói, “tu mình mà an người”, “tu mình mà an dân chúng”. Chỉ khi một người coi trọng đức, trở thành người nhân nghĩa thì mới có thể tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người trọng đức tu thân, có đức độ và danh vọng cao, có đủ đức và tài mới có thể trở thành hình mẫu cho người đời sau noi theo.

Trong sách sử ghi chép lại, Hoàng Đế khi khai sáng nền văn minh Hoa Hạ đã không chỉ dạy bảo dân chúng cải tạo hoàn cảnh tự nhiên, phát triển sản xuất nông nghiệp mà còn sáng lập ra lễ pháp, tôn ti trật tự… Ông không chỉ giáo hóa dân chúng hành đức mà còn phải dùng đức trị quốc.

Lập đức, hành nhân nghĩa, hành đạo hiếu cũng là những phẩm cách cơ bản, đặc trưng của Đế Nghiêu, Đế Thuấn. Ngay từ nhỏ, Ngu Thuấn đã nổi tiếng là người hiếu thảo. Cho dù cha mẹ và em trai đều tìm cách hãm hại, nhưng Đế Thuấn vẫn trước sau đều dùng đức hạnh của người con, người anh để đối xử lại. Chính tấm lòng hiếu thảo, nhân nghĩa của Ngu Thuấn đã làm cảm động Trời xanh, cũng bởi tấm lòng hiếu thảo mà ông có được thiên hạ, và cũng bởi lòng hiếu thảo mà ông có thể cai trị được thiên hạ.

Cả Đế Nghiêu và Đế Thuấn đều không truyền cấp ngôi vị cho con cháu mà lựa chọn người hiền tài, đức hạnh, giúp ích được thiên hạ để truyền. Những việc làm và đức hạnh của họ đã khiến họ trở thành những nhân vật được lưu danh thiên cổ.

Lập Công

Đức là phần bên trong của công, công là bên ngoài của đức. Một người có đạo đức nhân nghĩa sẽ cảm thấy vui vì sinh mệnh của bản thân dung nhập với xã hội, với vận mệnh của dân tộc, từ đó tự nguyện gánh vác trách nhiệm của bản thân với xã hội, với dân tộc. Họ sẽ không tính toán được mất của cá nhân mà lấy lợi ích của đại chúng làm trọng. Khi thấy dân chúng bị bao vây trong nguy hiểm, xã hội bị bao vây trong hoạn nạn thì họ sẽ dũng cảm bước ra, lập được công nghiệp, tích được hậu đức.

Những vị đại thần, lương tướng tu thân trị quốc, kinh bang tế thế, cho dù họ làm điều đó không phải vì danh vọng của bản thân nhưng danh tiếng của họ tự nhiên được lưu danh muôn đời, được hậu nhân kính ngưỡng và ghi nhớ.

Xưa kia Đại Vũ tận sức trị thủy, một lòng tạo phúc cho dân chúng. Chu Công từng hai lần phò tá Chu Vũ Vương phạt Trụ, thành lập vương triều nhà Chu. Sau khi bình định được thiên hạ, Chu Công lại có công thiết lập các chế độ cơ bản cho triều đình. Bởi vậy, Chu Công được hậu nhân xưng là người sáng tạo vương triều nhà Chu. Sau này Chu Công lại bắt đầu chế tác lễ nhạc, khai sáng truyền thống văn hóa tinh thần, thúc đẩy sự phát triển của nền văn minh Hoa Hạ.

Lập công còn phải kể đến nhà chính trị, quân sự thời Xuân Thu là Quản Trọng. Quản Trọng phò tá Tề Hoàn Công, đem lễ, nghĩa, liêm, sỉ làm “bốn sợi dây chính” của quốc gia. Ông cho rằng, một dây mà đứt thì đất nước bị nghiêng, hai dây bị đứt thì đất nước bị nguy hiểm, ba dây bị đứt thì đất nước bị đảo lộn, bốn dây bị đứt thì đất nước bị diệt vong.

Ngoài những danh thần trên, nhờ lập công cho quốc gia mà lưu lại danh tiếng đời đời còn có Gia Cát Lượng nhà Thục Hán thời Tam Quốc, Ngụy Trưng thời nhà Đường, Phạm Trọng Yêm thời Bắc Tống, Vu Khiêm thời Tiền Đường…

Lập Ngôn

Các bậc tiên hiền cổ triết đều coi lập ngôn là mạng sống. Bởi vì nó mở ra chính nghĩa, kế thừa lịch sử và truyền bá văn hóa. Trong lịch sử có không ít nghĩa sĩ đều vì lời nói mà bị kết tội, thậm chí là mất đi sinh mạng của bản thân và gia đình. Cho nên, lập ngôn luôn có thể gặp phải khảo nghiệm sinh tử.

Trong “Chu Dịch” viết: “Ngôn hành, quân tử chi sở dĩ động thiên đích dã, khả bất thận hồ?”, ý nói lời nói và việc làm của người quân tử có thể động đến trời đất, sao có thể không cẩn thận chứ. Các bậc tiên hiền cho rằng bản thân phải có trách nhiệm với lời nói của mình. Bởi vì lời nói của người đời trước là có ảnh hưởng lớn đến lịch sử và người đời sau, những sáng tác tốt sẽ đem lại lợi ích cho ngàn đời sau, những sáng tác không tốt sẽ làm nguy hại chúng sinh, cho nên lập ngôn phải hết sức cẩn thận.

Các chí sĩ thời xưa cho rằng, lập ngôn cần phải buông bỏ được lợi ích cá nhân. Họ coi việc “không sợ sinh mệnh ngắn ngủi, không sợ khổ sở đau buồn, lời nói và chữ viết lưu lại cho đời sau phải là kinh điển” là chí hướng cần đạt tới.

Lão Tử sau khi đắc đạo, cưỡi trâu xanh ra Hàm Cốc quan thì gặp quan Doãn Hỷ thỉnh cầu nên đã viết lại “Đạo Đức Kinh” lưu lại cho hậu nhân. Toàn bộ “Đạo Đức Kinh” chỉ với gần 5000 từ nhưng vô cùng tinh luyện, thâm thúy, chứa đựng tư tưởng, đạo lý nhân sinh sâu sắc, như những lời dạy bảo, chỉ đường cho người đời sau.

Tư Mã Thiên chỉ vì nói lời chân thật mà bị giam vào ngục. Sau khi bị giam vào ngục, Tư Mã Thiên đã bị “cung hình” – một hình phạt tàn khốc. Nhưng nỗi xấu hổ, sỉ nhục, phẫn nộ ấy, tất cả dường như được ngưng tụ vào ngòi bút của ông. Cuối cùng, Tư Mã thiên đã biên soạn nên bộ trứ tác “Sử Ký” đồ sộ, để lại cho hậu nhân một công trình vĩ đại và một bài học lớn lao.

Trong lịch sử, những người bởi vì lập ngôn mà bất hủ còn có Khổng Tử, Mạnh Tử, Trang Tử, Khuất Nguyên, Ban Cố, Hàn Dũ, Chu Hi, Tô Đông Pha, Lý Bạch, Tư Mã Quang… Các tác phẩm của họ đều có giá trị giáo dục to lớn và ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Theo Secretchina
An Hòa
Nguồn: trithucvn.org

Hits: 4

Nếu quý độc giả có câu chuyện hay, bức ảnh đẹp, lời thơ sâu lắng... có ý nguyện cùng chúng tôi gìn giữ những giá trị đạo đức truyền thống. Xin vui lòng gửi về hòm thư: admin@quayvetruyenthong.org

Có thể bạn quan tâm:

BÀI VIẾT XEM NHIỀU

Hits: 0